Thứ Năm, 22 tháng 4, 2010

Người công nhân hết mình vì công việc


Anh Nguyễn Đăng Phương

Trong chuyến đi công tác tại chi nhánh điện Thành Cổ, tôi được biết ở đây có nhiều công nhân rất cần mẫn và tinh thần trách nhiệm cao với công việc. Vì đã có ý định từ trước sẽ viết về gương người tốt, việc tốt trong công nhân ngành Điện, nên khi đặt vấn đề này với anh Nguyễn Vinh - Trưởng Chi nhánh điện Thành Cổ, anh Vinh giới thiệu ngay.

Không bỏ lỡ dịp may mắn này, tôi đã tìm gặp bằng được Nguyễn Đăng Phương (công nhân bậc 6/7) khi anh đang thi công cải tạo tuyến đường dây hạ áp xã Triệu Đông để kịp tiến độ nghiệm thu bàn giao lưới điện, phục vụ bán điện đến từng hộ dân. Nguyễn Đăng Phương nhìn chúng tôi cười và nói hiền từ: "Công việc của em ngày nào cũng vậy, áo quần da cam mặc cả ngày, mũ bảo hộ và dây da an toàn luôn thường trực bên người, khi thì trèo cột căng dây, lắp đặt công tơ, lúc thì đi kiểm kê đường dây, vật tư thu hồi. Mục tiêu là hoàn thành công việc được giao mà anh". Câu nói mộc mạc chân thành ấy đã gây thiện cảm với tôi ngay từ đầu tiếp xúc với Phương.

Nguyễn Đăng Phương sinh năm 1968, bên dòng sông Thạch Hãn. Tuổi thơ của Phương phải chứng kiến và chịu đựng sự tàn khốc của bom đạn trong cuộc chiến tranh 81 ngày đêm Thành Cổ Quảng Trị năm 1972. Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, anh rèn luyện trong quân ngũ 3 năm tại Sư đoàn rađa phòng không TP.Đà Nẵng, sau đó học tại Trường Cao đẳng Kỹ thuật điện Hội An, chuyên ngành quản lý vận hành lưới điện. Năm 1996, Nguyễn Đăng Phương được tiếp nhận vào công tác tại Chi nhánh điện Thành Cổ. Tuổi trẻ nhiệt huyết và sôi nổi trong công tác được phân công là quản lý đường dây và tham gia tích cực các phong trào của đoàn thanh niên, nên sau hai năm công tác, anh Phương được tín nhiệm bầu làm Bí thư Chi đoàn cơ sở liên tục hai nhiệm kỳ 1998 - 2007 và nay là uỷ viên Ban chấp hành Công đoàn Điện lực Quảng Trị, Chủ tịch Công đoàn Chi nhánh điện Thành Cổ.

Năm 1999, trận lụt bão lịch sử đã làm thiệt hại rất lớn tài sản lưới điện trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, Nguyễn Đăng Phương được giao nhiệm vụ chỉ huy Đoàn thanh niên Chi nhánh điện Thành Cổ khắc phục sự cố, hậu quả thiệt hại lưới điện tại những nơi xung yếu nhất của các xã ven biển Hải Lăng. Sau đợt khắc phục hậu quả lũ lụt, Nguyễn Đăng Phương được UBND tỉnh Quảng Trị tặng Bằng khen do có thành tích xuất sắc khắc phục hậu quả lũ lụt và Đoàn cơ quan Dân chính Đảng Tỉnh tặng Giấy khen.

Năm 2005, một công việc đặc thù và khó khăn mà Chi nhánh điện Thành Cổ đảm nhận là chương trình xoá bán tổng, quản lý bán điện trực tiếp đến hộ dân nông thôn 15 xã được đầu tư cải tạo bằng nguồn vốn ADB, và Nguyễn Đăng Phương được phân côngm nhóm trưởng nhóm lắp đặt công tơ. Lăn lộn với công việc được giao, đóng góp tích cực vào thành tích chung của đơn vị, vì thế trong năm 2005, Nguyễn Đăng Phương được vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng. Năm 2006, với mục tiêu đẩy nhanh tiến độ xoá bán tổng lưới điện hạ áp nông thôn, Nguyễn Đăng Phương được lãnh đạo Chi nhánh “chọn mặt gửi vàng”, giao làm Tổ trưởng tổ xoá bán tổng. Nói về công việc, Nguyễn Phương cởi mở tâm sự với tôi: "Để đảm bảo tiến độ và năng suất lao động, em phải lo tính toán vật tư, dụng cụ thi công, lập kế hoạch phương tiện xe máy từ hôm trước cho công việc ngày hôm sau. Đúng giờ làm việc đầu ngày, anh em trong tổ phải có mặt tại Chi nhánh để “xuất hành” về các xã. Nhiều khi công việc dở dang, bọn em phải gắng làm cho xong, nên kết thúc công việc quá giờ nghỉ trưa hoặc xế chiều là chuyện thường ngày, kể cả ngày thứ bẩy. Vào thời điểm "tăng tốc", anh em trong tổ làm cả ngày chủ nhật nữa”.

Vừa trực tiếp làm, vừa chỉ đạo sát sao từng công việc cho anh em trong tổ, chiếc điện thoại E-phone của Phương thỉnh thoảng lại được cầm lên a-lô để nhận sự điều hành từ lãnh đạo Chi nhánh, từ các bộ phận liên quan và mối quan hệ phối hợp công việc với ban quản lý các HTX. Công việc dồn dập như con thoi, sáng làm ở HTX này, chiều có thể lại sang địa bàn khác. Gặp các anh ở ban quản lý các HTX và các đại lý dịch vụ bán lẻ điện nông thôn một số xã của huyện Triệu Phong, tôi đều nghe chung một ý kiến: "Anh Nguyễn Đăng Phương về đây cứ thấy luôn tay luôn chân, người và việc luôn đi đôi với nhau như hình với bóng, làm việc với tinh thần và trách nhiệm cao".

Để có số liệu cho phương án đầu tư xây dựng và cải tạo sửa lớn ở các xã có dự án đầu tư ADB và các xã khác trong kế hoạch xoá bán tổng, Nguyễn Đăng Phương cùng tổ đã dùng thước dây loại 50 mét đi đo vẽ các tuyến đường dây hạ áp, có những tuyến phải lội ruộng, đi qua vườn nhà dân, bờ ao... Vừa đo vừa thống kê chi tiết các loại cột, xà, sứ, dây dẫn, tiếp địa, néo cột. Một con số nói lên sự chăm chỉ, miệt mài với công việc của một người công nhân chỉ lấy kết quả công việc làm thước đo cho mình và của đơn vị: Trong 20 ngày Phương cùng anh em trong tổ cầm thước dây đi đo vẽ và liệt kê khối lượng gần 120 km đường dây hạ áp nông thôn để kịp cho tiến độ lập hồ sơ tiếp nhận; bình quân mỗi ngày tổ xoá bán tổng lắp được 300 công tơ, tính đến nay tổ của Phương đã lắp được gần 8.000 công tơ cho các xã; ngoài ra Nguyễn Đăng Phương cùng với tổ xoá bán tổng còn tham gia trực tiếp thi công xây dựng và cải tạo trên 100 km đường dây hạ áp nông thôn để cấp điện an toàn, bán điện đến tận hộ dân. Vì thế, nếu có ai hỏi về địa danh hay con số đường dây, công tơ đã cải tạo và lắp đặt cho HTX này, xã kia thì Phương nói vanh vách, thuộc lòng như “cháo chảy”.

Nhiều năm liền, Nguyễn Đăng Phương đều đạt danh hiệu Lao động giỏi của Chi nhánh điện Thành Cổ và Điện lực Quảng Trị. Với tuổi nghề đang độ chín, có sức khoẻ và tâm huyết với nghề nghiệp, không nề hà bất cứ việc gì, Nguyễn Đăng Phương đang là nhân tố tích cực trong phong trào lao động sản xuất, đồng thời, anh còn được phong tặng danh hiệu Chủ tịch công đoàn giỏi của Điện lực Quảng Trị.

Người "thuyền trưởng" ở Điện lực Khánh Hòa




Danh hiệu “thuyền trưởng” này CBCNV trong đơn vị đã suy tôn cho Bùi Quang Hùng không chỉ vì hiện nay anh là Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Bí thư Đảng ủy tại Công ty cổ phần Điện lực Khánh Hòa, mà đối với CBCNV cùng công tác với anh trên 30 năm nay đều “tâm phục - khẩu phục” rằng: Dù được phân công ở vị trí công tác nào, Bùi Quang Hùng cũng vững tay chèo lái được nhiệm vụ công tác một cách xuất sắc, góp phần đưa đơn vị vượt qua bao khó khăn sóng gió.

Cho đến hôm nay, khi “con thuyền” Công ty cổ phần Điện lực Khánh hòa đã vươn ra “biển lớn”- Một đơn vị kinh doanh điện năng đầu tiên của Tập đoàn Điện lực Việt Nam được cổ phần hóa - chính Bùi Quang Hùng cũng tâm sự chân tình rằng: “Có một ngọn hải đăng soi sáng cho con đường chúng tôi vượt qua sóng to, gió lớn giữa biển cả mênh mông này chính là tự tu dưỡng, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Tốt nghiệp khoa Điện- điện tử tại Đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh năm 1978, lúc ấy Bùi Quang Hùng vừa tròn 24 tuổi, chàng kỹ sư điện quê gốc Quảng Nam tưởng được về Ninh Thuận để hợp lý hóa gia đình. Nhưng hồi ấy, tổ chức đã phân công anh về tỉnh Phú Khánh. Sau này tách ra 2 tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên. Thế là cuộc sống, công tác của Bùi Quang Hùng gắn bó với ngành điện tỉnh Khánh Hòa từ đó.

Anh bồi hồi nhớ lại một thời mới vào làm công nhân ở tổ Thí nghiệm điện tại Sở quản lý và phân phối điện Phú Khánh. Có thể nói tình yêu nghề và những ước mơ cháy bỏng được đem ánh điện thắp sáng cho quê hương đã ươm lên trong anh. Trong công tác thí nghiệm điện, Bùi Quang Hùng đã đến được với các công trình đưa điện về nông thôn, cấp điện cho thủy lợi, đưa điện về các buôn làng, ra các đảo xa. Trong giai đoạn 1981-1982, khi nạn “đói điện” hoành hành khắp Miền Trung, một kỷ niệm sâu sắc mà Bùi Quang Hùng còn nhớ khi đóng điện cho nhà máy Xi măng Hòn Cói ở huyện Ninh Hòa, từ cán bộ đến công nhân đã ôm chầm lấy các anh trong niềm vui có điện - đồng nghĩa với nhà máy đi vào sản xuất và có việc làm!

Thấm thoát đã trên 30 năm, tỉnh Khánh Hòa đã vươn lên phát huy vị thế của một địa phương giàu tiềm năng về du lịch, dịch vụ và công nghiệp. Đêm hoa đăng Nha Trang đã tuyển chọn hoa hậu cho cả nước và thế giới. Ánh điện đã trang điểm cho quê hương Khánh Hòa đi vào hội nhập. Có thể nói, mồ hôi, công sức và trí tuệ của các thế hệ CBCNV ngành điện Khánh Hòa đổ ra không nhỏ để đánh đổi được hệ thống lưới điện bề thế hôm nay nhất là “Chương trình phủ điện nông thôn”: 100% các thôn xóm của Khánh Hòa đều có điện lưới. Những đảo xa như Vũng Ngán, Bình Hưng cũng được thắp sáng bằng máy phát Diesel…Sản lượng điện thương phẩm từ năm 2000 đã gần 500 triệu kWh tăng 14% so với năm 1999 và đến nay, sản lượng đã vượt xấp xỉ 1 tỷ kWh....

Trong những thời điểm khó khăn của ngành điện địa phương, Bùi Quang Hùng đã cùng tập thể lãnh đạo đề xuất được những giải pháp tốt nhất. Thấm nhuần lời dạy của Bác: “Không có việc gì khó- Chỉ sợ lòng không bền”. Anh đã nghiên cứu đề xuất và thực hiện đề tài “máy bù quay”, tận dụng các máy điện Diesel cũ , đã giải quyết nâng công suất cho đường dây từ thủy điện Đa Nhim về với Khánh Hòa ở thời điểm khan điện nhất . Anh cũng đã chủ động đề xuất nhận các máy Diesel cũ của quân đội, của Đồng Hới về sửa chữa phục hồi, góp thêm nguồn điện cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Tháng 7 năm 2005, Điện lực Khánh Hòa chuyển sang hoạt động thí điểm đầu tiên theo mô hình cổ phần hóa. Ngoài những khó khăn đặc thù của một đơn vị tiên phong, giải quyết những mâu thuẩn về một đơn vị kinh doanh điện năng có hoạt động công ích, Bùi Quang Hùng cùng tập thể lãnh đạo đơn vị đứng trước bài toán khó với 3 sức ép lớn: “đầu vào, đầu ra” của giá điện phải theo quy định của nhà nước nhưng Công ty phải bảo đảm lợi nhuận tăng trưởng 12% theo nghị quyết của cổ đông!

“Không có việc gì khó!”, Bùi Quang Hùng đã tìm thấy ánh sáng ngọn hải đăng từ Tư tưởng Hồ Chí Minh: “Đoàn kết, đoàn kết- Đại đoàn kết”.Trong thời điểm đứng trước “biển lớn”, con thuyền Công ty CP Điện lực Khánh Hòa dưới quyền chỉ huy của “thuyền trưởng” Bùi Quang Hùng vẫn căng đầy nghị lực thẳng tiến bởi anh đã dày công xây dựng được khối đoàn kết nội bộ từ những ngày còn làm công tác Đoàn Thanh niên, Chủ tịch Công đoàn, công tác Đảng. Anh đã đầu tư cho “yếu tố con người” một cách bài bản; đào tạo nhân lực từ chuyên môn nghiệp vụ, chính trị chuẩn bị cho ngày “ra khơi” này, Bản thân anh cũng tự nghiên cứu, đào tạo cả về chính trị, quản lý, tài chính chứng khoán.

Với 8 phòng, ban nghiệp vụ và 12 đơn vị thành viên, bao gồm1.193 CBCNV; Công ty cổ phần Điện lực Khánh Hòa hôm nay đã được biết đến không chỉ trong nước mà cả trên sàn giao dịch chứng khoán đầy tiềm năng và hiệu quả lớn trong mô sản xuất kinh doanh tổng hợp.

Trong dịp kỷ niệm 55 năm ngày truyền thống ngành điện (21/12/1954-21/12/2009), Công ty CP Điện lực Khánh Hòa vinh dự được nhận Huân chương Độc lập hạng Nhì về thành tích đặc biệt xuất sắc trong công tác, góp phần vào sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc. Phía sau tấm Huân chương cao quý đó là công sức, mồ hôi và trí tuệ của tập thể CBCNV trong hơn 30 năm qua, Bùi Quang Hùng cũng vinh dự nhận được Huân chương Lao động hạng 3. Và nữa, trong lòng CBCNV, Bùi Quang Hùng đã trở thành vị “thuyền trưởng” luôn sát cánh cùng đồng đội để đưa con thuyền đơn vị vượt qua sóng gió đi đến các bến bờ thắng lợi.

Người thầy thuốc ưu tú luôn lấy chữ “tâm” làm trọng



Sau 10 năm về làm Giám đốc Trung tâm Y tế Dệt May (đơn vị phụ thuộc của Tập đoàn Dệt May Việt Nam – Vinatex), đến nay, mái tóc đã bạc trắng, da dẻ có phần sạm lại, nhưng phong thái thì vẫn nhanh nhẹn lắm. Từ công tác chuyên môn đến các công việc quản lý, anh đều giải quyết đâu ra đó “thấu tình đạt lý” mới thôi. Trong hành vi ứng xử hằng ngày, anh luôn lấy chữ “Tâm” làm trọng. Vì vậy, anh luôn được cấp trên tin tưởng, cấp dưới và đồng nghiệp mến phục, đồng thuận.

Trung tâm Y tế Dệt May - Bệnh viện Dệt May là một bộ phận trong bộ máy vận hành của Tập đoàn Dệt May Việt Nam. Với chức năng chính là khám và chữa trị bệnh cho người lao động trong ngành dệt may - một ngành sử dụng trên 3 triệu lao động, sản xuất hàng xuất khẩu thu nhiều ngoại tệ về cho đất nước, thì đóng góp của Bệnh viện Dệt May là không nhỏ mà trước tiên phải kể đến vai trò “đứng mũi chịu sào” của tiến sĩ, bác sỹ Nguyễn Đình Dũng.

Anh Dũng bồi hồi nhớ lại, năm 1998, anh về nhận nhiệm vụ tại Trung tâm Y tế Dệt May. Lúc đó, Trung tâm chỉ có vài chục giường bệnh, phòng làm việc lúp xúp, ẩm thấp; Trang thiết bị thì hầu như không có gì ngoài một số thiết bị chuyên dùng để khám chữa trị và phục hồi chức năng cho người bệnh.

Tất cả tài sản của Trung tâm lúc đó là do Bệnh viện Công ty Dệt 8-3 chuyển sang và tiếp tục hoạt động mấy năm liền mà không được bổ sung gì thêm. Mỗi khi mùa mưa đến, nước tràn vào sân ngập đến bắp chân, vì thế bệnh viện lúc nào cũng vắng người bệnh đến khám và điều trị.

Đối mặt với một thực tế không mấy thuận lợi như vậy, việc đầu tiên của bác sỹ Nguyễn Đình Dũng khi về nhận nhiệm vụ là tới gõ cửa lãnh đạo các Bộ Y tế, Bộ Công Thương, Tập đoàn Dệt May Việt Nam và các cơ quan chức năng xin cấp và hỗ trợ kinh phí để cải tạo, nâng cấp Bệnh viện, mua sắm máy móc thiết bị chuyên dùng hiện đại. Tiếp đó là tuyển dụng những bác sỹ giỏi bổ sung vào các khoa và cử hàng loạt bác sỹ trẻ đi học tập nâng cao nghiệp vụ, cử cán bộ đi học chuyên sâu về cận lâm sàng như: Siêu âm, điện não đồ, xét nghiệm sinh hoá, chẩn đoán hình ảnh… tại Trường Đại học Y và các Bệnh viện trung ương. Trung tâm còn tự tổ chức nhiều lớp tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn cho các cán bộ y tế. Vì thế, đội ngũ cán bộ Trung tâm ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng. Hiện nay, trong tổng số hơn 80 CBCNV của Trung tâm, thì có 30 bác sĩ, trong đó có 1 tiến sĩ, 5 thạc sĩ, 1 chuyên khoa cấp II và 19 chuyên khoa cấp I.

Bản thân bác sỹ Dũng cũng tranh thủ thời gian để hoàn thiện học vị thạc sỹ rồi tiến sỹ. Vừa làm quản lý, vừa làm chuyên môn nên thời gian đối với anh đúng nghĩa là “quí như vàng”. Anh bao giờ cũng là người đến sớm nhất và về muộn nhất Bệnh viện. Anh có một thói quen là đến sớm và đi một vòng thăm qua những bệnh nhân điều trị nội trú. Chính sự sâu sát này của anh mà có lần, tôi đã được chứng kiến một đồng nghiệp của tôi công tác tại Tạp chí Công nghiệp, đã được cứu sống. Số là hôm đó, anh đang đi một vòng thăm bệnh nhân như thường lệ thì phát hiện, bệnh nhân Tuyền không có trong phòng bệnh. Ngó vào phòng, linh tính như mách bảo anh có điều gì đó không ổn khi cửa được khóa trong, phòng tắm đóng, nhưng không thấy bệnh nhân, trong khi ngày hôm trước, chị Tuyền phải nhập viện vì huyết áp tăng cao đột ngột. Ngay lập tức, anh cho người phá khóa cửa thì phát hiện bệnh nhân đang ngã trên sàn nhà tắm vì xuất huyết não. Trực giác của một người thầy thuốc tận tâm với nghề đã cứu sống tính mạng của chị Tuyền, bởi chỉ chậm ít phút nữa thôi đến giờ làm việc thì có lẽ chị đã không còn cơ may với cuộc sống.

Ngần ấy năm quen biết anh, tôi rất cảm phục tinh thần ham học hỏi, lòng say nghề và khát khao nghiên cứu khoa học ở anh. Mỗi khi chuẩn bị một đề tài khoa học hay trong đầu nảy ra một ý tưởng về cải tiến công tác quản lý, anh lại gọi điện hoặc mời tôi xuống để trao đổi, đàm đạo. Tuy công việc của tôi hoàn toàn khác công việc của anh, nhưng anh coi tôi như một người em, người bạn tri kỷ. Hễ Trung tâm y tế của anh có gì mới như vừa mới cứu sống được một bệnh nhân, hay phát hiện được căn bệnh hiểm nghèo là anh lại vui mừng báo cho cho tôi biết để chia sẻ cùng anh. Anh đã làm chủ nhiệm nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ như : “Bước đầu nghiên cứu bệnh phụ khoa mắc phải ở nữ công nhân làm việc tại các doanh nghiệp dệt may” và đề tài cấp Tập đoàn: “Tìm hiểu bệnh đau thắt lưng ở người lao động ngành dệt may điều trị tại Bệnh viện Dệt may”. Từ những kết quả nghiên cứu có được, Trung tâm có những ý kiến đề xuất, tham mưu cho Bộ Y tế và Tập đoàn Dệt May về nguy cơ bệnh nghề nghiệp của các lao động trong ngành để có biện pháp khắc phục.

Sau những nỗ lực không mệt mỏi của anh và các đồng nghiệp, Bệnh viện Dệt May bây giờ đã có một diện mạo hoàn toàn khác. Từ 2 dãy nhà cấp 4 của Bệnh viện Công ty Dệt 8/3, đến nay Trung tâm Y tế Dệt may đã xây dựng được một Bệnh viện loại 2 khang trang, quy mô trên 200 giường bệnh, với các khoa nội liên chuyên khoa, ngoại, sản, y học dân tộc, môi trường, bệnh nghề nghiệp và phòng khám, nhà điều trị khang trang, các phòng khoa có đầy đủ bác sỹ giỏi chuyên khoa cấp I với đội ngũ y, bác sỹ, nhân viên phục vụ tận tình chu đáo.

Không chỉ được nâng cấp về cơ sở vật chất, đội ngũ thầy thuốc của Bệnh viện cũng ngày càng được tăng cường, chuyên môn vững, phục vụ tốt đã tạo được uy tín với người bệnh và doanh nghiệp. Hàng năm, Trung tâm luôn bổ sung thêm trang thiết bị, phương tiện làm việc hiện đại, nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, đáp ứng nhiều hơn nhu cầu khám, chữa bệnh của người lao động trong ngành và nhân dân trên địa bàn.

Từ khi được nâng cấp khang trang Trung tâm thành Bệnh viện hạng 2, Bệnh viện đã khám và điều trị nội, ngoại trú cho hàng trăm ngàn lượt bệnh nhân với vài chục ngàn ca chụp X-quang, điện tim, và hàng trăm ngàn tiêu bản xét nghiệm sinh hoá. Hệ số sử dụng giường bệnh đạt 95%, tỷ lệ bệnh nhân khỏi bệnh ổn định đạt hơn 90%. Tất cả bệnh nhân vào viện đều được giải quyết khám ngay, chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời và chu đáo. Trung tâm còn mời các giáo sư đầu ngành hội chẩn; liên kết với các bệnh viện lớn như Xanh Pôn Việt Đức, Bạch Mai, Thanh Nhàn… cùng phối hợp khám, chẩn đoán bệnh, để có những hướng điều trị tốt, đảm bảo an toàn cho bệnh nhân..

Cùng với công tác khám chữa bệnh, công tác giáo dục tư tưởng, đạo đức, đặc biệt là y đức, luôn được lãnh đạo Trung tâm chú trọng. Ngoài việc thực hiện tốt 12 điều y đức, cán bộ, bác sĩ, y tá và hộ lý của Trung tâm luôn tâm niệm và làm theo lời dạy của Bác Hồ: “Thầy thuốc như mẹ hiền”. Ở đây, người bệnh luôn an tâm điều trị. Bệnh viện luôn chuẩn bị tâm lý tốt cho bệnh nhân, giúp cho việc điều trị của thầy thuốc tốt hơn và bệnh dường như cũng mau lành. Theo quan niệm của bác sĩ Nguyễn Đình Dũng thì người bệnh khi đến với Bệnh viện Dệt May thì phải thấy thoải mái như ở nhà, được phục vụ với thái độ tận tình, chu đáo nhất. Có thoải mái tinh thần thì kết hợp với các liệu pháp điều trị mới đạt kết quả như mong muốn. Vì thế, anh quán triệt tới tất cả CBCNV phải luôn nở nụ cười và thật sự hết lòng vì người bệnh. Con số hàng trăm ngàn người đến khám và điều trị mỗi năm đối với một bệnh viện ngành đã cho thấy uy tín của Bệnh viện đã được khẳng định như thế nào. Và mỗi CBCNV của bệnh viện mà đứng đầu là tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Đình Dũng có quyền tự hào.

Tạo dựng lòng tin yêu của người bệnh, trở thành một địa chỉ tin cậy cho người lao động trong và ngoài ngành đến khám và chữa trị, công đầu thuộc về tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Đình Dũng - Giám đốc Trung tâm, người luôn hết lòng vì người bệnh. Trong câu chuyện, anh không nói về mình hay những công việc vất vả của những y, bác sĩ, mà chỉ kể về những ca bệnh hiểm nghèo đã được tập thể bác sĩ, y tá của Trung tâm điều trị khỏi bệnh, với niềm vui mừng như với chính những người thân trong gia đình.

Bên cạnh công tác chuyên môn, bác sỹ Dũng còn là một thầy thuốc giàu lòng nhân ái và vị tha. Anh thường giáo dục tinh thần đoàn kết tương trợ lẫn nhau giữa các đồng nghiệp. Anh luôn ghi tạc vào lòng lời răn dạy thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Lương y như từ mẫu, thầy thuốc như mẹ hiền”. Cái gì tốt, có lợi cho tập thể, cho Bệnh viện thì anh quyết tâm thực hiện cho bằng được.

Với những thành tích đạt được, Trung tâm Y tế Dệt May đã được nhận phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước - Huân chương Lao động hạng Nhì, cá nhân bác sỹ Dũng được tặng Huân chương Lao động hạng Ba và danh hiệu “Thầy thuốc ưu tú”. Và vinh dự tiếp tục đến với anh khi ngày 11/2/2010, Chủ tịch nước đã ký Quyết định phong tặng danh hiệu “Thầy thuốc nhân dân” cho 72 bác sĩ trên cả nước, trong đó có anh. Đây không chỉ là niềm vinh hạnh của cá nhân bác sỹ Dũng, mà còn là niềm tự hào và kiêu hãnh của đội ngũ thầy thuốc Việt Nam nói chung và CBCNV ngành Dệt May nói riêng.

Người say mê cải tiến để được… lùi


Anh Võ Đình Minh đang hướng dẫn cho khách

Vào một ngày đầu xuân 2010, tôi may mắn được chứng kiến một cuộc bàn giao đầy cảm động: 2 người khuyết tật ôm nhau trong dàn dụa nước mắt vui sướng; một người nhận được chiếc xe mô tô 3 bánh có số lùi - đi tới đi lui đều được và người kia là tác giả của sản phẩm sâu nặng ý nghĩa nhân văn - vượt lên nỗi đau số phận.

Họ siết chặt tay nhau hướng về con đường đời phía trước. Điều làm tôi ngạc nhiên đến thán phục là sản phẩm xe mô tô có “số de” cho người khuyết tật lại do chính anh Võ Đình Minh - một người khuyết tật đã tự mày mò, nghiên cứu thiết kế và lắp ráp, trở thành sản phẩm độc đáo của DNTN Hoàng Minh 27 Lam Sơn - TP Quy Nhơn do anh làm chủ.

Định hướng cuộc sống từ một tuổi thơ bất hạnh

Võ Đình Minh sinh ra và lớn lên ở vùng quê dừa Tam Quan - tỉnh Bình Định. Vào những năm 1963, bom đạn chiến tranh đã chà xát trên quê hương, gieo tang tóc cho bà con làng xóm, gia đình, tuổi thơ của anh phải chịu thêm một bất hạnh lớn đó là cơn sốt bại liệt trong điều kiện chiến tranh không chạy chữa được đã cướp đi đôi chân của anh lúc 3 tuổi,

Không tuyệt vọng, Võ Đình Minh vẫn được đến trường trên lưng những người bạn cùng xóm. Cho đến một buổi học cuối cấp 1, ngôi trường bị của anh bị giặc đánh bom và xảy ra cháy lớn. Trong cơn hoảng loạn, mạnh ai nấy chạy, Võ Đình Minh bất lực ngồi nhìn ngọn lửa đến quyết định số phận của mình thì… điều kỳ diệu đã xảy ra: Bạn Huynh xuất hiện, cõng anh băng ra khỏi lưới lửa mịt mùng. Từ đó, không những anh ghi sâu vào tâm khảm người sinh ra mình lần thứ 2 mà một ý tưởng đẹp đã nảy sinh trở thành định hướng cho cuộc đời của Võ Đình Minh sau này như một chân lý thật đơn giản: “Hạnh phúc là khi được giúp đỡ mọi người”.

Động lực mới từ “tàn nhưng không phế”

Theo người cha công tác trong ngành hoả xa vào Quy Nhơn sinh sống. Võ Đình Minh phải rời ghế nhà trường từ cuối năm lớp 9, anh quyết kiếm lấy một nghề nghiệp gì đó để làm kế sinh nhai, không phải phụ thuộc gia đình vốn rất khó khăn vì đông con. Võ Đình Minh được giới thiệu vào học nghề điện tử ở Thành phố Hồ Chí Minh sau ngày giải phóng, tại một cơ sở tư nhân. Chăm chỉ, sáng dạ, khắc phục khó khăn trong đi lại, anh đã tích luỹ được một số vốn kiến thức kỹ thuật, học hỏi kinh nghiệm tương đối về sửa chữa ti vi, các đồ gia dụng về điện tử. Tuy vậy, về lại Quy Nhơn với thân phận là người khuyết tật anh không thể tìm được việc làm, không đủ vốn để mở cửa hàng riêng. Đành chuyển sang nghề làm thợ sửa khoá. Với tư chất tìm tòi, sáng tạo học hỏi qua sách vở, bạn bè anh tích luỹ được một số vốn kha khá. Thời ấy anh được mệnh danh là “Ông vua mở két sắt” tại Quy Nhơn-Bình Định. Cơ quan, gia đình nào mất chìa khoá là anh được điều động đến ngay.

Với sự mẫn cảm với các ngành nghề CN-TTCN, anh mạnh dạn chuyển sang làm ăn lớn: dồn vốn mở cơ sở gia công suốt chỉ bố lốp xe hơi để làm vệ tinh cho các nhà máy sản xuất lốp xe đạp. Công việc đang tiến triển với gần chục lao động khuyết tật có thu nhập ổn định thì đột nhiên mặt hàng này bị cạnh tranh bởi các nguyên liệu ngoại nhập. Bài học chua xót về thị trường anh phải trả giá quá đắt để cơ sở gia công bị phá sản.

Thất bại trong sản xuất, không duy trì nổi việc làm cho số lao động khuyết tật đã cùng kề vai sát cánh vượt qua cuộc sống nhưng anh không nản lòng. Võ Đình Minh nhớ lại lời Bác Hồ như một lời động viên đúng lúc “…tàn nhưng không phế”. Lúc này đau đáu trong anh là làm thế nào để đi lại dễ dàng hơn, quan hệ rộng hơn với các đoàn thể Hội người khuyết tật của địa phương. Trên chiếc xe mô tô 3 bánh tự chế tạo được, mỗi lần đi ra con hẻm trong phố để về nhà, không cách nào lùi được để quay đầu, lại phải chờ người đi đường kéo hộ… quá phiền toái. Anh tự nhủ với lòng mình phải tìm cách, tự cứu mình và anh em cùng cảnh ngộ.

Nhìn thấy trong đống đồ phế liệu của người vợ mua, bán ngoài chợ trời có nhiều chi tiết: hộp số, tay ga của xe lam 3 bánh, các loại động cơ mô tô, Võ Đình Minh tự đặt cho mình một mục tiêu mới: “Mô tô 3 bánh có số lùi cho người khuyết tật- Tại sao không?” Thế là anh lại lao vào cuộc tìm kiếm mới, hết ga ra này đến xưởng cơ khí nọ để học hỏi, gia công các bộ phận cho một chiếc mô tô đặc chủng. Những kiến thức kỹ thuật tích lũy được gần nữa đời người đã hỗ trợ anh “khôn ra từ cái khó”.

Trải qua bao cay đắng trong thất bại, anh lại kiên trì đeo bám ý tưởng suốt một năm trời để hoàn thiện sản phẩm đầy tính nhân văn này. Bởi anh biết rằng khi chiếc xe mô tô có chức năng lùi, người khuyết tật sẽ có thêm cơ hội tiếp cận với cộng đồng, không gian cuộc sống sẽ mở rộng thêm. Điều đó trở thành nguyện vọng, định hướng cuộc sống của Võ Đình Minh từ thời niên thiếu.

Ngày hạnh phúc thứ 2 trong đời Võ Đình Minh là ngày 18/4/1995, khi chiếc xe mô tô 3 bánh cho người khuyết tật có số lùi - đầu tiên được đưa ra thị trường, với hàng chục đơn đặt hàng từ khắp các địa phương trong toàn tỉnh Bình Định. Vinh dự hơn nữa, sản phẩm của Võ Định Minh được tham gia Hội thi sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Bình Định lần thứ 2 năm 2003 được đạt giải cao. Anh được nhận Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Lao động TB&XH Bằng khen của Bộ Khoa học Công nghệ. Đem biểu tượng “ Chiến thắng nỗi đau” của Bộ LĐTB&XH và Hội bảo trợ người tàn tật tặng ở Hà Nội về cơ sở sản xuất, anh em công nhân khuyết tật như vỡ oà niềm vui trong nghẹn ngào nước mắt.

Thế là doanh nghiệp Tư nhân Hoàng Minh ra đời với gần chục lao động trong đó có tuyển thêm công nhân kỹ thuật cơ khí, động lực và các lao động là người khuyết tật, thương binh về đây chung sức chung lòng cho một thương hiệu đã đi vào cuộc sống: Các loại xe cho người khuyết tật trong đó có xe mô tô 3 bánh - có số lùi, Cơ sở cơ khí tư nhân Hoàng Minh cũng đã nghiên cứu thêm và sản xuất thành công xe lăn chạy điện lên cầu thang cho người khuyết tật. Đây là địa chỉ tin yêu của hàng trăm người khuyết tật từ mọi miền trong nước với sự giúp đỡ có hiệu quả của Hội bảo trợ Người Khuyết tật và trẻ em Mồ côi của địa phương.

Vẫn còn đó những nguyện vọng cháy bỏng

Võ Đình Minh trở thành ông chủ của một cơ sở sản xuất cơ khí tư nhân, không chỉ thành đạt trên thương trường với nhiều mẫu mã xe được thích nghi tốt với người khuyết tật. Hạnh phúc của anh là cùng anh em “vượt qua nỗi đau” nâng mình lên hoà nhập với cộng đồng. Tuy nhiên vẫn còn đó những khó khăn về vốn, nhà xưởng mặt bằng chật hẹp, lại phải thuê mướn không ổn định, thủ tục đăng ký sở hữu công nghiệp, đăng kiểm an toàn… sao khó quá! Anh tâm sự thật chân tình: Đã “tiến được và lùi được”, nhưng giá như có cú huých tạo động lực từ các Ngành, các cấp của xã hội thì chiếc xe “mô tô 3 bánh - có số de” của chúng tôi sẽ tiến nhanh hơn vào mục tiêu: đưa một bộ phận người khuyết tật của chúng tôi hoà nhập sớm vào cộng đồng”


Bông hoa của vùng đất Thép



Ẩn chứa bên trong người phụ nữ mảnh mai và dịu dàng ấy là một sức mạnh thật đáng ngạc nhiên. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, chị cũng luôn đặt ra mục tiêu, vượt mọi khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đó là chị Vũ Thị Nga - Quản đốc Phân xưởng Cơ điện, Nhà máy Cốc Hoá, Công ty CP Gang thép Thái Nguyên.

Được biết về chị qua những dịp Tuyên dương Lao động giỏi, Lao động sáng tạo của Công đoàn Công ty Gang Thép Thái Nguyên, Liên đoàn Lao động tỉnh Thái Nguyên và Tổng Công ty Thép Việt Nam đã lâu, nhưng đến khi được chị Nguyễn Thị Doan - Trưởng Ban Nữ công Công ty giữ lại, tôi mới có nhiều thời gian để trò chuyện với chị.

Năm 1988, tốt nghiệp Trường Trung cấp nghề cơ điện (Công ty Gang thép Thái Nguyên), Vũ Thị Nga được phân công về Nhà máy Cốc Hoá – đây chính là “mảnh đất” tốt để cô thợ trẻ này say mê, tìm tòi, sáng tạo, vận dụng vào công việc được giao. Thời gian gần 22 năm đã đủ để nói lên những thành quả lao động của một con người. Với chị, ngần ấy thời gian gắn bó với nghề, với nhà máy, chị đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm cho mình để rồi hôm nay ở cương vị là Quản đốc Phân xưởng những kinh nghiệm quý báu đó đã giúp chị vượt qua thử thách.

Trưởng thành từ người công nhân của Nhà máy Cốc Hoá, lại được sinh ra trong gia đình mà bố, mẹ, anh em đều gắn bó với Công ty Gang thép Thái Nguyên. Chính cái nôi truyền thống đó đã hun đúc cho chị nghị lực mạnh mẽ và vươn lên, miệt mài cần mẫn trong từng công việc. Cùng với lòng yêu nghề, Nga đã sớm trở thành một trong những nữ công nhân có tay nghề cao của Nhà máy. Mặc dù, phân xưởng chị làm việc chuyên về sửa chữa, khắc phục các sự cố về cơ, điện, phục vụ cho nhiệm vụ sản xuất chính của Nhà máy, nghe thì có vẻ là nhàn, nhưng bắt tay vào làm mới thấy hết được sự phức tạp và tầm quan trọng của nó. Công việc này đòi hỏi người thợ phải có trình độ kỹ thuật về cơ, điện, bởi, nếu chỉ một sơ xuất nhỏ là có thể ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của cả dây chuyền, gây thiệt hại không nhỏ cho Nhà máy. Vì vậy, ở môi trường làm việc này người công nhân ngoài đức tính cẩn thận, tỉ mỉ và sáng tạo cần phải có trình độ chuyên môn khá vững. Ở Phân xưởng khi đó, Nga là cô thợ trẻ hay làm, chịu khó học hỏi, lại rất cẩn thận, khéo tay và có trách nhiệm với công việc. Nga không ngần ngại đề xuất với lãnh đạo Nhà máy nhiều ý tưởng để nâng cao chất lượng cũng như rút ngắn thời gian sửa chữa lắp đặt thiết bị... Trình độ tay nghề và tác phong trong công việc của Nga đã chiếm được lòng tin của đồng nghiệp cũng như lãnh đạo Nhà máy, năm 1995, chị được bầu làm Tổ trưởng Tổ điện 1 và chị đã dẫn dắt Tổ liên tục đạt danh hiệu "Tổ tiên tiến xuất sắc” cấp Nhà máy, cấp Công ty. Hàng năm, chị đều đề xuất nhiều sáng kiến, đề tài nghiên cứu có giá trị làm lợi hàng chục triệu đồng. Mới đây, chị đã thực hiện thành công đề tài “Lắp đặt giàn phun nước phenol dập tắt cốc trong giờ kiểm tra” thời gian thực hiện trong 2 giờ, làm lợi hàng trăm triệu đồng cho Nhà máy.

Không tự bằng lòng với chính mình, bởi chị luôn ý thức rằng cuộc sống là chuỗi những ngày phải học hỏi lao động sáng tạo. Con người không được phép “ngủ quên” bên những thành quả đạt được. Và chị nghĩ rằng, tri thức nhân loại là vô tận, “Học, học nữa, học mãi” là động lực để con người vươn lên. Thấm nhuần chân lý đó, từ một người thợ, năm 1996, chị thi vào Khoa Tự động hoá của Trường Đại học Công nghiệp Thái Nguyên. Ngày tháng vừa đi học, đi làm và nuôi con nhỏ không nói thì ai cũng thấu hiểu được nỗi vất vả cực nhọc của người phụ nữ. Hoàn cảnh của chị khi đó đã khó khăn về vật chất, tinh thần lại không được bù đắp. Ai cũng biết, Gang thép Thái Nguyên những năm 1997 -1999 là giai đoạn cực kỳ khó khăn, sau khi được Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu lên thăm và quyết định khoanh nợ vào năm 1999 thì Gang thép mới dần hồi phục và đi vào sản xuất ổn định, tiến tới mở rộng đầu tư. Và chị đi học trong những ngày tháng mà lương không đủ chi tiêu cho cuộc sống 2 mẹ con và không nhận được bất kỳ chia sẻ nào của người chồng. Có những lúc chị thấy tủi thân, tưởng mình ngã gục, nhưng nghĩ về đứa con trai bé nhỏ duy nhất của mình, chị lại gồng mình vượt qua. Chị chia sẻ, những lúc đó nếu không có bố mẹ, anh em trong gia đình và lãnh đạo, đồng nghiệp Nhà máy động viên thì chắc chị khó mà vượt qua được. Tôi lại nghĩ, chị có sức mạnh mà không phải người phụ nữ nào cũng có được, có lẽ chị đã thừa hưởng được truyền thống quí báu của gia đình, bản chất cần cù và kiên cường của người công nhân Gang thép nên chị đã vượt qua những lúc khó khăn nhất của cuộc đời mình.

Những nỗ lực hết mình cùng những ngày tháng miệt mài với công việc của chị đã được ghi nhận và đem đến cho chị niềm vui, niềm tự hào. Năm 2001, chị chính thức được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Tiếp đến, năm 2003, chị được đề bạt làm Phó quản đốc Phân xưởng cơ Điện. Khi nhận nhiệm vụ mới, chị đã rất lo lắng, bởi từ trước đến nay ở phân xưởng này chưa có nữ làm nhiệm vụ quản lý, nhất là về mảng kỹ thuật điện, tự động hoá, mà chỉ là do các “X-men” đảm nhiệm. Là đảng viên trẻ đầy nhiệt huyết, thấm nhuần chân lý sáng ngời của Đảng và Tư tưởng đạo đức của Bác Hồ, chị không cho phép mình lùi bước trước mọi khó khăn. Bằng chứng, chưa đầy 3 năm sau, năm 2006, chị được đề bạt làm Quản đốc Phân xưởng. Đây chính là thời gian mà chị đối mặt với nhiều thử thách, cùng một lúc vừa đảm nhiệm trọng trách của người quản lý điều hành công việc chung của một phân xưởng, phải đảm bảo tiến độ nhiều hạng mục công việc quan trọng của Nhà máy, nặng nề nhất là chuẩn bị mặt bằng để khởi công Dự án giai đoạn II của Công ty ngay trên mặt bằng phân xưởng mình. Ngày đêm bám sát công trình, chị cùng các đồng nghiệp di dời toàn bộ thiết bị của Phân xưởng đến địa điểm mới theo đúng tiến độ.

Với cương vị là Quản đốc, chị thực hiện đúng nguyên tắc tập trung thống nhất, giữ gìn sự đoàn kết nhất trí cao của một tập thể. Từ khi đảm nhiệm vai trò người đầu tầu, Phân xưởng của chị 3 năm liền là đơn vị tiêu biểu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Nhà máy; Chị bộ đảng trong sạch vững mạnh.

Nói về chị, Bí thư Đảng uỷ, Giám đốc Nhà máy Trần Đức Thành nhận xét, Chị Nga là người có tinh thần trách nhiệm, tay nghề vững, gương mẫu, tận tụy trong công việc; tính tình hòa nhã, từ tốn, được đồng nghiệp quý mến. Điều đáng trân trọng hơn là trong quá trình làm việc, chị đã không giữ "bí quyết" thành công riêng cho mình, mà luôn giúp đỡ cho anh em đồng nghiệp cùng tiến bộ. Ngoài cương vị là Quản đốc, chị là Bí thư chi bộ Phân xưởng cơ điện, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Gia đình, Trưởng Ban nữ công của Nhà máy.... Dù ở cương vị nào, chị cũng luôn hoàn thành nhiệm vụ, được lãnh đạo tin tưởng, đồng nghiệp quý mến. Những nỗ lực của chị đã được ghi nhận, nhiều năm liền chị đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở. Năm 2007, 2008 niềm vui đến với chị được nhân lên khi Liên đoàn Lao động tỉnh Thái Nguyên công nhận chị là công nhân xuất sắc tiêu biểu trong phong trào thi đua "Lao động giỏi - Lao động sáng tạo" và chị vinh dự được TLĐ Lao động Việt Nam tặng Bằng Lao động Sáng tạo và nhiều phần thưởng khác của Tổng công ty Thép Việt Nam, Công đoàn Công Thương Việt Nam... Nhưng có một phần thưởng tinh thần to lớn mà chị vinh dự xứng đáng được nhận đó là niềm tin của lãnh đạo, đồng nghiệp luôn dành cho chị trong suốt thời gian qua!


Khi thu ngân viên là ca sĩ



Tại Hội nghị biểu dương điển hình tiên tiến 5 năm (2005-2009) của Công ty Điện lực 3 tổ chức vào cuối tháng 3/2010 tại Đà Nẵng, có một báo cáo điển hình rất gây chú ý cho đại biểu, làm cho hội trường im phăng phắc và khi diễn giả kết thúc đã nhận được những tràng vỗ tay tán thưởng không dứt.

“Em biết rằng đi thu tiền điện đạt hệ số cao là việc làm gian khổ… nhưng em vẫn “phải”… vui. Biến cái “phải” vui thành niềm vui thực sự đồng hành với nhiệm vụ của mình là cả một quá trình phấn đấu rèn luyện trong suốt 10 năm qua của bản thân em. Em xin được chia sẻ những điều làm được với các bạn đồng nghiệp hôm nay”. Kim Hiếu - Thu ngân viên Điện lực Bình Định - đã “mở màn” như thế cho bản báo cáo của mình.

Được hỏi về những kỷ niệm ấn tượng nhất trong nghề nghiệp thu ngân viên, Kim Hiếu bộc bạch rất chân tình: “Trong số gần 2000 khách hàng do em phụ trách thu hằng tháng, đa số là gia đình lao động, buôn bán nhỏ. Đến thu tiền điện tại nhà trong giờ hành chính là “không ăn” rồi. Đến kỳ kết thúc hoá đơn, báo cáo hằng tháng mà chưa đạt, em phải tìm ra tận chợ để gặp khách hàng của mình. Điều bất ngờ đã xảy ra tại hàng cá! “Cô Hiếu ca sĩ hồi hôm hát trên ti vi nè các chị ơi!”. Cả rừng ánh mắt như đổ dồn về phía em, Em trấn tĩnh được ngay và nhỏ nhẹ: “Dạ, chào các chị! Em đi chợ sớm, may quá gặp được chị Phụng, chị Ba… Em xin tiền điện tháng này luôn, em đến thăm nhà chị 2 lần rồi mà không gặp, các chị thông cảm nghen!”. “Trời đất ơi! Mới mớ hàng sớm mai, đã xui xẻo bị đòi nợ rồi, bộ muốn ăn đòn gánh hả!”. Em đỏ mặt tía tai nghe tiếp những lời chát chúa hơn. Nhưng rồi có một giọng nói khác: “Ôi! Ca sĩ đi thu tiền điện đây mà, cho chị gửi tiền tháng trước luôn, ủng hộ ca sĩ Kim Hiếu đi chị em ơi!”. Thế là, không chỉ 2, mà đến 5 hoá đơn tiền điện được thu tại chợ trong sáng hôm đó. Em đã học được một bài học nhớ đời, đó là: Phải kiêng thu tiền buổi sang nếu không muốn bị “ăn đòn gánh”.

Sau mỗi lần gặp “tai nạn nghề nghiệp” như thế, cả tổ thu ngân Chi nhánh điện Quy Nhơn đều có thêm kinh nghiệm để cùng đúc rút. Có người nêu được kinh nghiêm để khỏi bị chó cắn khi vào nhà khách hàng, lại có người đề xuất những “chiêu” tránh được sự suồng sã của khách hàng khi vợ vắng nhà… Hành trình của một thu ngân viên là vậy. Mưa nắng, gió bão không sợ, nhưng sợ nhất mất lòng khách. Hạn chế tối đã việc áp dụng biện pháp cuối cùng là đề nghị cắt điện để đòi nợ. Bởi vì sau mỗi “vụ” như vậy xảy ra, khách hàng đều đổ mọi tội lỗi lên đầu thu ngân viên khi tiếp xúc lần sau.

Chuyện chung là như vậy, nhưng đối với thu ngân viên Phạm Thị Kim Hiếu, có một hoàn cảnh tự lập rất riêng. Có duyên với sự nghiệp ca hát từ nhỏ, Kim Hiếu trở thành “người của công chúng” sau khi giật được một số huy chương trong các kỳ thi tiếng hát hay, hội diễn trong ngành và địa phương. Không những vậy, một số địa phương mời chị đem lời ca tiếng hát phục vụ từ biên giới, đến hải đảo và đồng đội. Hữu xạ tự nhiên hương - cái tên ca sĩ Kim Hiếu được công chúng mến mộ từ ấy… Nhưng Kim Hiếu lại có một cuộc sống riêng khá vất vả, vừa phải một mình chăm sóc mẹ già, vừa phải nuôi dạy 2 con ăn học. Thật may mắn, cậu con trai đầu đã trở thành đồng nghiệp với mẹ tại Chi nhánh điện Quy Nhơn. Chính nghị lực và lòng yêu nghề đã trau dồi cho Kim Hiếu một bản lĩnh vững vàng trong công việc bình thường để Kim Hiếu trở nên phi thường bởi những thành tích sau: Hệ số thu tiền điện của Kim Hiếu luôn dẫn đầu cả tổ, từ 1.600 hoá đơn định mức hàng tháng, Kim Hiếu đã đạt trên 1.700 rồi 1.800 hoá đơn, lượng tiền mặt lên cả hàng trăm triệu đồng. Chưa kể số hoá đơn dịch vụ viễn thông được đồng nghiệp nhờ thu hỗ trợ. Góp phần vào chỉ tiêu K% thu tiền điện, viễn thông - một chỉ tiêu “toát mồ hôi” - của Chi nhánh điện Quy Nhơn với gần 50.000 khách hàng, vậy mà quý nào cũng đạt trên 98%.

Để làm được việc đó, Kim Hiếu tâm sự: “Em phải bố trí thời gian hợp lý nhất trong ngày để đến với khách hàng của mình, hiệu quả nhất là đến ngoài giờ tùy theo hoàn cảnh nghề nghiệp của từng hộ. Yếu tố thành công của em là làm quen và thân thiện với từng thành viên trong gia đình của khách hàng. Đi thu tiền điện mà cứ như đi thăm gia đình người quen vậy. Em phải tranh thủ thời gian thường xuyên học hỏi nghiệp vụ, cập nhật thông tin về ngành Điện để giải thích được với khách hàng của mình về các chính sách, giá cả điện năng, viễn thông, khuyến mãi…” Thật vậy, ưu điểm nổi trội của thu ngân viên Kim Hiếu không chỉ là một chăm sóc viên cho khách hàng, mà còn luôn có ý thức phát hiện những khách hàng có hiện tượng bất thường trong dùng điện, báo về đơn vị kịp thời xử lý

Với thâm niên gắn bó với ngành Điện 27 năm, trong đó 10 năm có mặt trên từng cây số thu ngân, Kim Hiếu đã nêu được một tấm gương điển hình về lòng nhiệt tình yêu nghề và có trách nhiệm với công việc được giao. Việc nước - việc nhà, cái chung - cái riêng luôn tự giải quyết hài hoà, hợp lý. Nhiều năm liền được nữ công nhân Điện lực Bình Định công nhận danh hiệu “Phụ nữ 2 giỏi”. Đồng đội thương yêu nể phục chị. Còn đối với đại biểu có mặt tại Hội nghị biểu dương điển hình tiên tiến Công ty Điện lực 3 hôm nay, những tràng pháo vang dội ấy không những biểu thị cho sự “tâm phục- khẩu phục” mà còn muốn gửi gắm rằng: “ Cố lên Kim Hiếu nhé - cô ca sĩ thu ngân đáng yêu!”

Hạt giống xứ Thanh ở Điện lực Long Thành




Năm 1987, Vũ Huy Băng, thợ điện bậc 6/7 của Điện lực Thanh Hóa đã cùng gia đình vào Nam lập nghiệp. Đầu quân về Sở Điện lực Đồng Nai với chức danh chuyên viên kinh doanh điện năng, anh được bổ nhiệm Trưởng Chi nhánh Điện Long Thành ba tháng sau đó.

Sự thay da đổi thịt trên vùng đất hai huyện Nhơn Trạch và Long Thành của tỉnh Đồng Nai gắn liền với việc thành lập Chi nhánh điện Long Thành và người con xứ Thanh đã trở thành “hạt giống” tốt nẩy mầm trên đất phương Nam , sát cánh cùng với đồng đội, đưa điện về quê hương mới, làm bật dậy những tiềm năng to lớn về kinh tế - xã hội.

Nhớ lại những ngày đầu tiên bước chân trên vùng đất hoang hóa sau chiến tranh của huyện Long Thành, Vũ Huy Băng bồi hồi xúc động:

- Không nhà cửa, không người thân, cơ sở vật chất phục vụ điện năng chưa có gi đáng kể. Với ba cán bộ và bảy công nhân, chúng tôi đã siết chặt tay nhau ở “vạch xuất phát” của Chi nhánh điện Long Thành. Lòng yêu nghề và tinh thần đồng đội đã giúp chúng tôi trụ vững trước những khó khăn thách thức...

Thời điểm đó, lưới điện Đồng Nai mới chỉ đến được hai xã An Hòa, Phước Tân và thị trấn Long Thành. Hầu hết các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa của bà con dân tộc Châu Ro chưa biết đến ánh điện, nói gì đến điện phục vụ cho những dự án bơm tưới rừng cao su! Điện cho Long Thành các Khu Công nghiệp ở Nhơn Trạch vẫn còn là điều chỉ thấy trong mơ…

Tiếp nhận lưới điện Long Thành, Trưởng Chi nhánh Vũ Huy Băng còn phải đối mặt với một vấn đề nan giải khác là nợ đọng tiền điện. Chỉ riêng 27 đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn, dư số nợ tiền điện lên đến trên 400 triệu đồng.

Vũ Huy Băng cùng với 12 CBCNV chi nhánh xác định nhiệm vụ trước mắt là nhanh chóng mở rộng lưới điện, đưa điện về phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho nhân dân trên địa bàn. Anh đã đề xuất với Lãnh đạo Điện lực Đồng Nai một phương án táo bạo: “Nhà nước và nhân dân cùng làm điện”. Sau hai tháng tìm hiểu nguyện vọng của bà con ở từng địa phương, làm việc với chính quyền các cấp, Vũ Huy Băng nhận được sự ủng hộ chí tình của tất cả mọi người. Ban quản lý Dự án điện nông thôn Chi nhánh điện Long Thành được thành lập và thống nhất phương thức huy động vốn: Nguồn vốn của tỉnh đầu tư cho Trạm biến áp và đường dây trung thế 22kV, các huyện Nhơn Trạch và Long Thành phải “kham” lưới điện hạ thế 0,4kV trên cơ sở huy động sức dân và ngân sách huyện; ngành Điện lực thi công và gắn công tơ đến từng hộ gia đình.

Khi “chiếc chìa khóa làm điện” tại Long Thành, Nhơn Trạch đã có trong tay, công trường làm điện ở Nhơn Trạch và Long Thành nhộn nhịp hẳn lên: nhà nhà làm điện, người người làm điện. Vũ Huy Băng đã có mặt trên từng cây số, chỉ đạo, động viên, thăm hỏi công nhân và chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của họ

Giai đoạn đầu dự án, đã có 31/31 xã , thị trấn của hai huyện dọc theo quốc lộ 51 chan hòa ánh điện. Dư nợ tiền điện đã được thu về. Công tơ của ngành điện được treo trong từng cơ quan, đơn vị và hộ dân đã được treo, gắn bài bản qua “Chương trình xóa bán tổng”...

Lưới điện nông thôn ở hai huyện Long Thành và Nhơn Trạch khởi sắc và, từ Trưởng Chi nhánh điện Long Thành, Vũ Huy Băng được đề bạt Giám đốc Điện lực Long Thành trực thuộc Công ty Điện lực Đồng Nai từ năm 2003. Như cánh chim không mỏi, anh đã cùng 320 CBCNV lao vào nhiệm vụ mới, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện.

Đến nay, sau 22 năm thành lập, Điện lực Long Thành đã trưởng thành vượt bậc. Hiệu quả trong sản xuất kinh doanh điện năng và dịch vụ viễn thông công cộng ngày càng được nâng cao. CBCNV ở đây có việc làm, đời sống ổn định và tiếp tục vươn lên phấn đấu cho dòng điện quê hương.

Điện lực Long Thành hiện tại đã xây dựng và quản lý gần 2.000km đường dây trung, hạ thế, 1800 TBA với tổng dung lượng 577.000kVA. Sản lượng điện năm 2009 đã đạt được 1.700triệu kWh, cung cấp đủ điện, liên tục an toàn cho 85.000 khách hàng với tổng doanh thu điện năng đạt trên 1.700tỷ đồng. Trong đó, 11 khu công nghiệp trên địa bàn hai huyện Long Thành và Nhơn Trạch đã “no điện” cho sản xuất.

Một thành công ghi dấu ấn của Giám đốc Điện lực Long Thành là anh đã dày công tìm hiểu lưới điện, phụ tải trên địa bàn, đưa ra các giải pháp chống tổn thất về thương mại và tổn thất về kỹ thuật để phấn đấu hạ tỷ lệ tổn thất điện năng xuống 2,9% - một con số đầy thuyết phục trong công tác kinh doanh điện năng .

Ngày 12/12/2009 Điện lực Long Thành vinh dự nhận phần thưởng cao quý của Chủ tịch nước: Huân chương Lao động hạng Nhì. Giám đốc Vũ Huy Băng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba sau 41 năm công tác.

Trong niềm vinh quang và tự hào, CBVNV Điện lực Long Thành tìm thấy hình ảnh của con “chim đầu đàn” Vũ Huy Băng như một ân nhân, một người anh gần gũi đầy nhiệt huyết, luôn hết lòng phấn đấu cho dòng điện trên quê hương của họ.